Bác sĩ chi tiết



Tóm tắt bệnh Cholesterol máu cao

Các tên gọi khác của bệnh này:

  • Rối loạn mỡ máu
  • Tăng mỡ trong máu
  • Tăng cholesterol máu

Cholesterol là một chất sáp tìm thấy trong các chất béo (lipid) trong máu. Nồng độ cholesterol trong máu cao làm tăng nguy cơ bị thu hẹp động mạch, tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Những người có cholesterol cao cũng có khả năng bị huyết áp cao và bệnh tiểu đường. Có hai loại cholesterol tạo nên tổng mức cholesterol: Lipoprotein trọng lượng phân tử thấp - LDL và Lipoprotein trọng lượng phân tử cao - HDL. Trong khi LDL được xem là cholesterol xấu thì HDL là cholesterol tốt. Chỉ số LDL nên được duy trì thấp hơn 130 mg/dL, nếu trên 160 mg/dL chỉ số LDL được coi là quá cao, gây nguy hiểm. Nếu mức độ HDL thấp hơn 40 mg/dL sẽ gây tăng nguy cơ xơ vữa động mạch.

Triệu chứng

Cholesterol máu cao có thể là do di truyền hoặc do chế độ ăn uống, lối sống.

Chẩn đoán

  • Bệnh nhân thường không có triệu chứng.

  • Xét nghiệm máu là cách duy nhất để phát hiện cholesterol máu cao.

Điều trị

Thực hiện khai thác bệnh sử và khám lâm sàng. Bệnh nhân sẽ được xét nghiệm máu để đo lượng cholesterol toàn phần, LDL và HDLvà Triglyceride (một loại chất béo trong máu)

Tổng quan bệnh Cholesterol máu cao

Những điều nên biết về cholesterol

Nhiều người cho rằng cholesterol gây ảnh hưởng nguy hiểm cho cơ thể. Nhưng trên thực tế, cholesterol đóng vai trò hết sức quan trọng...

  • Cholesterol là gì?

    Cholesterol là một hợp chất rất quan trọng đối với hoạt động sống của cơ thể, đóng vai trò trung tâm xây dựng màng tế bào, hoóc-môn sinh dục và thúc đẩy quá trình tiêu hóa, nhưng nó cũng là một nguyên nhân gây thiếu máu cơ tim (bệnh mạch vành). Cholesterol trong máu được cung cấp bằng hai nguồn: từ thức ăn và được tổng hợp từ tế bào gan. Các thức ăn có chứa nhiều cholesterol như mỡ động vật, trứng, bơ, phomat, gan.

  • Có mấy dạng cholesterol?

    Trong gan, cholesterol kết hợp với protein tạo ra hai dạng cholesterol là LDL (lipoprotein có trọng lượng phân tử thấp) và HDL (lipoprotein có trọng lượng phân tử cao), và được vận chuyển vào dòng máu.HDL mang ít cholesterol nên có thể kết hợp với cholesterol tự do trong máu và vận chuyển về gan để xử lý, vì vậy nếu hàm lượng của HDL trong máu càng cao thì càng giảm nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Người có hàm lượng HDL trong máu cao hơn 60mg/dl là ngưỡng an toàn đối với bệnh tim mạch, thấp hơn 40mg/dl là có nguy cơ mắc bệnh cao.Ngược lại, LDL chứa nhiều cholesterol và khởi xướng sự hình thành các mảng xơ vữa trên thành các động mạch nói chung và động mạch vành nói riêng (trạng thái này gọi là xơ vữa động mạch).

    Các mảng xơ vữa này gây hẹp hay tắc lòng mạch nuôi dưỡng cơ tim gây ra các cơn đau tim. Hàm lượng LDL càng cao thì nguy cơ mắc bệnh mạch vành càng cao.

    Mặc dù hàm lượng LDL và HDL là những chỉ số tốt nhất để dự đoán nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng xác định hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu cũng rất quan trọng để dự đoán nguy cơ bị bệnh mạch vành. Nếu một người có hàm lượng cholesterol toàn phần trong máu thấp hơn 200mg/dl thì ít có nguy cơ mắc bệnh mạch vành, nhưng nếu cao hơn 240mg/dl thì có nguy cơ mắc bệnh cao.

 

  • Kiểm soát lượng cholesterol

    Biện pháp hữu hiệu nhất để giảm hàm lượng LDL, tăng HDL và giảm cholesterol máu toàn phần là thay đổi chế độ ăn và tăng cường tập thể dục. Cần giảm lượng chất béo nói chung, đặc biệt là giảm lượng chất béo no chứa trong mỡ động vật.Để đạt được điều này nên: hạn chế sử dụng các loại thịt, cá xuống còn 150-200g mỗi ngày. Nên sử dụng thịt thăn, thịt bắp không dính mỡ. Loại tất cả những phần mỡ nhìn thấy trước khi chế biến và lượng mỡ được tạo ra trong quá trình đun nấu. Không ăn da, đầu, cổ, cánh của các loại gia cầm như: gà, ngan, vịt. Hạn chế ăn lưỡi, tim, gan, lợn. Dùng dầu thực vật để chế biến thức ăn, nhưng cũng phải hạn chế. Theo tính toán, nếu giảm lượng cholesterol trong khẩu phần ăn hàng ngày đi 1% sẽ giảm được 2% nguy cơ mắc bệnh mạch vành.

    Trong nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học ở Mỹ và Nga đã chứng minh rằng, có thể kềm chế và làm thoái lui sự phát triển xơ vữa động mạch ở các bệnh nhân tim mạch nói chung và bệnh nhân mạch vành nói riêng bằng việc thực hiện các bài tập rèn sức bền như: đi bộ nhanh, chạy việt dã, bơi, đạp xe đạp, đặc biệt là đi bộ nhanh 5-7 buổi/tuần, mỗi buổi 40-60 phút hay chạy việt dã 2-3 buổi/tuần, mỗi buổi 20-40 phút có tác dụng tốt đối việc điều hòa lượng cholesterol máu sau 3-6 tháng tập luyện. Tóm lại, cholesterol là một chất rất cần thiết cho cơ thể, tuy nhiên mỗi người cần phải biết kiểm soát hàm lượng cholesterol máu của mình, kiểm tra và điều chỉnh bằng chế độ dinh dưỡng khoa học kết hợp với tăng cường tập luyện thể dục thể thao rèn luyện sức khỏe.

Tổng quát về chứng cholestrerol cao

Cholesterol được dùng để tạo nên thành tế bào, hormon, vitamin D, axít mật v.v… Khi gan sản sinh quá nhiều cholesterol thì bệnh nhân sẽ có nồng độ cholesterol trong máu tăng cao. Từ đó các mạch máu dễ bị nghẽn và dẫn đến bệnh. Vì chỉ có động vật mới có cholesterol, bệnh nhân ăn thịt sẽ bị tăng cholesterol nhiều hơn ăn thực vật. Tuy nhiên, dầu thực vật khi vào cơ thể cũng sẽ chuyển hóa để tạo ra cholesterol. Vì thế ăn nhiều dầu thực vật cũng sẽ dẫn đến cholesterol cao.

  • Những loại mỡ cholesterol

    Cholesterol LDL xấu vì nó làm nghẽn các mạch máu dẫn đến bệnh. Cholesterol HDL tốt vì nó giúp cholesterol xấu ra khỏi mạch máu và làm mạch máu bớt bị nghẽn.

  • Lượng cholesterol cao sẽ dẫn đến triệu chứng gì?

    Lượng cholesterol cao sẽ không gây ra triệu chứng gì nhưng cholesterol cao sẽ đưa đến những biến chứng gây ra triệu chứng bệnh. Nhiều bệnh nhân nghĩ rằng lượng cholesterol cao sẽ gây nhức đầu, mệt mỏi, khó chịu trong người. Những điều này không đúng. Nếu chúng ta bị lượng cholesterol cao nhưng chưa bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, nghẽn mạch máu chân,... thì sẽ không có triệu chứng gì; tuy nhiên, một khi bị rồi thì thường hay quá trễ. Một trường hợp ngoại lệ là những bệnh nhân có lượng triglyceride trên 1.000 thì dễ bị viêm tụy cấp.

  • Tại sao ta phải trị cholesterol cao?

    Như đã đề cập ở trên, lượng cholesterol cao trong máu sẽ dễ dẫn đến những bệnh tim mạch như nghẽn mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, nghẽn mạch chân. Vì vậy, làm giảm lượng cholesterol trong máu sẽ giúp bệnh nhân tránh hay ít bị những bệnh này.

 

  • Bệnh nhân có phải uống thuốc giảm cholesterol suốt đời hay không?

    Vì gan là cơ quan sản sinh cholesterol trong cơ thể của chúng ta, nếu không có thuốc mỗi ngày thì lượng cholesterol sẽ từ từ tăng lên. Vì vậy chúng ta phải uống thuốc giảm cholesterol mãi mãi. Thế nhưng những bệnh nhân chịu tập thể dục thường xuyên và cữ ăn theo đúng tiêu chuẩn để lượng cholesterol thấp xuống thì có hy vọng bỏ thuốc được. Có nhiều bệnh nhân bỏ uống thuốc sau khi đã dùng vài tháng vì họ đo lại lượng cholesterol và thấy xuống thấp. Ðiều này rất sai lầm vì chỉ trong một thời gian ngắn thì lượng cholesterol của họ sẽ bị lên cao trở lại.

  • Làm thế nào để tránh bị cholesterol cao?

    Vì cholesterol có trong đồ ăn có nguồn gốc động vật, chúng ta phải ăn ít những loại đồ ăn như mỡ, thịt, trứng. Nếu uống sữa tươi thì dùng loại ít béo hoặc không béo. Vì dầu là loại mỡ có nguồn gốc thực vật và giúp cho cơ thể sản sinh ra nhiều cholesterol, nên chúng ta cần nên ăn ít dầu. Các loại dầu dừa hay đậu phộng hay rau làm nghẽn mạch máu nhiều hơn dầu granola hay dầu ôliu. Chúng ta nên ăn ít lại nếu bị tăng cân hay bị béo phì vì giảm cân thì cholesterol cũng giảm.Chúng ta cũng đừng quên tập thể dục vì tập thể dục cũng giúp giảm lượng cholesterol LDL xấu và làm tăng lượng cholesterol HDL tốt.

  • Có khám phá mới gì trong vấn đề trị bệnh cholesterol gần đây hay không?

    Gần đây bác sĩ đã nghiên cứu được rằng những người đã bị nghẽn mạch vành, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, hay bệnh tiểu đường thì cần có lượng cholesterol thấp hơn những bệnh nhân khác. Vì thế, những bệnh nhân này nên để ý đến lượng cholesterol và sức khỏe của mình kỹ hơn.

  • Vậy lượng cholesterol bao nhiêu mới được xem là tốt?

    Khi bác sĩ nói đến cholesterol của bệnh nhân, họ thường đề cập đến lượng cholesterol toàn phần. Con số được coi là “trung bình” nằm vào khoảng 200. Nếu thấp hơn 200 thì được xem là tốt. Nếu nằm trong khoảng 200 đến 240 thì được xem là “hơi cao” hay ở ngưỡng. Và nếu trên 240 thì xem là cao nhiều. Tuy nhiên, lượng cholesterol toàn phần gồm có cholesterol xấu LDL, cholesterol tốt HDL, một phần của triglycerid. Cần phải đánh giá các chỉ số này nữa, chứ không chỉ đánh giá lượng cholessteroltoàn phần.

Điều trị bệnh

Với người bị cholesterol máu cao, điều trị bằng thuốc không phải lúc nào cũng tốt; chưa nói đến các thuốc này thường đắt, không phải ai cũng đủ khả năng mua điều trị lâu dài. Các chuyên gia tim mạch đưa ra giải pháp hợp lý và hiệu quả, đó là kết hợp điều trị bằng thuốc và thức ăn.

Bình thường cholesterol là chất cần thiết và có lợi, vì nó là thành phần cấu tạo chủ yếu của màng, sợi thần kinh, hormone (như hoóc-môn sinh dục nam, nữ), vitamin (như vitamin D), giúp gan sản xuất ra a-xít mật, có lợi cho tiêu hóa.

Người ta chia cholesterol thành hai loại:

  • Loại có lợi: Là loại phức hợp giữa cholesterol với lipoprotein phân tử lượng cao, có chức năng mang cholesterol tích trong mạch máu ra ngoài.

  • Loại có hại: Là loại phức hợp giữa cholesterol với lipoprotein phân tử lượng thấp, có chức năng làm cho chất béo bám vào thành mạch gây xơ mỡ động mạch.

Bình thường lượng cholesterol toàn phần nhỏ hơn 200mg%. Khi lớn hơn 240mg% là cao. Tuy nhiên, chỉ khi nào loại cholesterol có hại quá cao (lớn hơn 180mg%) và loại cholesterol có lợi quá thấp (dưới 35mg%) thì lúc đó mới có sự rối loạn cân bằng cholesterol. Thầy thuốc căn cứ vào sự rối loạn cân bằng này và tiền sử bệnh tật của người bệnh mới quyết định có dùng thuốc hay không. Ðừng vì hiểu không thấu đáo, quá lo lắng, tự ý mua thuốc dùng.

Điều trị bằng thuốc:

Thuốc làm hạ cholesterol thường có 4 nhóm chính, nhưng thường dùng nhất là nhóm Fibrat và Statin.

 
  • Nhóm Fibrat: biệt dược thông dụng là lypanthyl (viên 100mg, 300mg), làm giảm loại cholesterol có hại, tăng cholesterol có lợi, lập lại cân bằng bình thường về hai loại này. Nhờ thế làm giảm hẳn lượng cholesterol trong máu (nếu dùng lâu dài) và từ đó làm giảm nguy cơ xơ mỡ động mạch. Tuy nhiên thuốc loại này thường làm tổn thương cơ (thường xảy ra hơn đối với người bị đau cơ lan tỏa), ảnh hưởng xấu đến thận và gan (làm tăng chỉ số transaminnaza). Vì thế không được dùng cho người suy gan thận, với người bình thường khi dùng cũng phải định kỳ kiểm tra chức năng gan (đo chỉ số transaminaza).

  • Nhóm Statin: Biệt dược thông dụng là lescol (viên 20mg). So với nhóm trên, thì nhóm này làm giảm cholesterol có hại và tăng cholesterol có lợi với mức mạnh hơn, do đó ngăn ngừa tốt hơn nguy cơ xơ mỡ động mạch và một số bệnh tim khác. Một ưu điểm khác là thuốc được hấp thu nhanh và hoàn toàn (khoảng 98%). Thuốc có những tác dụng độc như nhóm trên nên cũng có khuyến cáo tương tự. Ngoài ra chưa có các thông tin đầy đủ cho trẻ dưới 18 tuổi nên không nên dùng cho đối tượng này.

  • Nhóm Niacin: biệt dược thông dụng niacin (viên nén 5, 50, 100, 150 và 500mg, ống tiêm 1ml chứa 0,17% niacin). Thuốc làm giãn nở các động mạch nhỏ, mao mạch, giảm cholesterol máu. Thường dùng phối hợp với nhóm statin. Cần thận trọng khi dùng cho phụ nữ có thai, cho con bú, không dùng cho trẻ em, hết sức thận trọng khi dùng cho người sỏi mật, người có bệnh mạch vành. Theo dõi cẩn thận người bệnh có tiền sử vàng da, có bệnh gan hay loét tiêu hóa nếu phải dùng thuốc. Cấm dùng với người rối loạn chức năng gan, loét tiêu hóa, chảy máu động mạch.

  • Nhóm Resin: biệt dược thông dụng là cholestyramin hoặc cholestipal. Thuốc làm giảm loại lipoprotein phân tử lượng thấp (tức gián tiếp làm giảm cholesterol có hại) và từ đó làm giảm lượng cholesterol toàn phần xuống 25-30%, làm giảm sự tích tụ li-pít ngoài thành mạch. Tuy nhiên, bản chất của thuốc là nhựa trao đổi ion, không bị hấp thu qua đường tiêu hóa, sau 3-6 tuần không dùng thuốc, lượng lipoprotein tỷ trọng thấp và cholesterol toàn phần lại tăng lên. Thuốc có thể gây táo bón và tiêu chảy, nôn, nhưng sẽ tự mất đi khi ngừng dùng.

  • Hiện nay, người ta còn dùng một loại thuốc mới có tên là lipotropic, thực chất là một hỗn hợp gồm các chất hướng mở, vận chuyển mỡ. Hỗn hợp này làm tăng việc sản xuất ra lecithin do đó giúp hòa tan cholesterol, giảm lượng cholesterol thành mạch, ngăn ngừa nguy cơ xơ mỡ động mạch...

  • Những thuốc nói trên thường đắt, khó dùng. Thầy thuốc chỉ cho khi có sự rối loạn mất cân bằng cholesterol thực sự và khi tiền sử người bệnh không có bệnh tim mạch, tiểu đường.

Các câu hỏi liên quan bệnh Cholesterol máu cao